Hội chứng co thắt ở trẻ nhỏ

Hội chứng co thắt ở trẻ nhỏ là một dạng động kinh. Bạn cũng có thể nghe một tên gọi khác của hội chứng này là hội chứng West khi tiến sĩ William West đã mô tả hội chứng co thắt ở chính con trai của mình vào những năm 1840.

Hội chứng co thắt ở trẻ nhỏ là gì?

Hội chứng co thắt ở trẻ nhỏ thường bắt đầu trong năm đầu đời. Co thắt là một dạng động kinh. Khi trẻ bị co thắt, có thể xuất hiện bất kỳ dấu hiệu nào sau đây:

·         Chân và tay giật nhanh

·         Đầu trúc xuống

·         Tay múa loạn xạ

·         Chân co lên ngực

·         Các cơ cứng lại và sau đó giãn ra

·         Mắt đảo sang một bên hoặc ngược lên

·         Thay đổi nhịp thở

Đôi khi trẻ bị hội chứng co thắt trông giống như bị đau dạ dày nặng hoặc hội chứng quấy khóc, nhưng chúng không bị đau. Co thắt thường xảy ra khi trẻ đang tỉnh táo, nhưng cũng có thể xảy ra ở những thời điểm khác. Trẻ có thể bị lên một cơn co thắt ở một lần, hoặc nhiều cơn co thắt quay vòng. Nhiều cơn co thắt quay vòng được gọi là một chuỗi. Mỗi cơn co thắt thường kéo dài chưa tới 10 giây. Một chuỗi hay các cơn co thắt nghiêm trọng kéo dài hàng phút.

Sau khi lên cơn, trẻ có thể khóc hoặc cười. Các cơn co thắt không gây đau đớn, nhưng trẻ có thể khóc bởi vì động tác cử  động giật nhanh gây bất ngờ cho chúng.

Sau khi bắt đầu lên cơn co thắt, trẻ có thể ngừng phát triển

Một khi cơn co thắt bắt đầu, cha mẹ thường nhận thấy trẻ ngừng phát triển. Chúng ngừng làm những việc mà vẫn làm trước đó, chẳng hạn như cười, lăn qua lăn lại hoặc ngồi. Chúng cũng có thể ngừng nhìn theo các vật (theo dõi) và ngắm nhìn mọi người. Chúng không tìm cách làm những điều mới.

Nguyên nhân nào gây hội chứng co thắt ở trẻ nhỏ?

Co thắt ở trẻ nhỏ có thể xảy ra do nhiều vấn đề khác nhau. Đôi khi xảy ra ở những trẻ bị chứng chậm phát triển. Những trẻ vốn đã có vấn đề với não. Các vấn đề có thể bắt đầu:

·         Trước khi sinh ra

§  Nếu bộ não không hình thành đúng cách trong giai đoạn phát triển bào thai

§  Nếu có bất thường nhiễm sắc thể gây một rối loạn ảnh hưởng tới não, chẳng hạn như

hội chứng Down hay bệnh xơ cứng củ, và làm tăng nguy cơ bị co thắt ở trẻ nhỏ.

§  Nếu có thất thường với quá trình trao đổi chất của cơ thể, gây ra quá nhiều hoặc quá ít các hoạt chất cần thiết cho cơ thể.

§  Nếu não bị tổn thương do cục máu đông hay chảy máu trong não hoặc nhiễm trùng

·         Vào thời điểm sinh.

§  Nếu trẻ không nhận đủ lượng oxy lúc mới sinh

§  Nếu trẻ bị chấn thương trong quá trình sinh.

·         Trong tháng đầu đời.

§  Do nhiễm trùng não

§  Do tổn thương não

Đôi khi trẻ đang phát triển bình thường khi bắt đầu bị co thắt và không xác định được nguyên nhân.

Co thắt ở trẻ nhỏ được chia thành 3 nhóm:

·         Xác định được triệu chứng:  Khi đã xác định được nguyên nhân gây co thắt.

·         Không xác định được nguyên nhân: Khi trẻ đã có các vấn đề với quá trình phát triển trước khi bắt đầu lên cơn co thắt, nhưng không thể tìm ra nguyên nhân

·         Tự phát: Khi trẻ vẫn phát triển bình thường trước khi lên cơn co thắt và chúng ta không thể xác định được nguyên nhân.

Các dấu hiệu và triệu chứng của co thắt ở trẻ nhỏ

Bác sĩ sẽ chẩn đoán trẻ bị hội chứng co thắt nếu chúng biểu hiện tất cả các triệu chứng sau đây:

·         Trẻ bị co giật thường được thấy ở hội chứng co thắt như đã miêu tả bên trên

·         Xét nghiệm EEG (điện não đồ) của trẻ cho thấy một mô hình sóng não được gọi là loạn nhịp sóng cao thế.

·         Trẻ ngừng phát triển hoặc ngừng tìm tòi học tập làm những điều mới kể từ khi bắt đầu lên cơn co giật.

Các xét nghiệm chẩn đoán chứng co thắt ở trẻ nhỏ

Trẻ sẽ cần nhiều xét nghiệm khác nhau trước và sau khi được chẩn đoán bị co thắt.

Điện não đồ

Trẻ sẽ được làm điện não đồ (EEG). Xét nghiệm này soi các mẫu sóng điện mà các tế bào não tạo nên và không gây đau.

Một kỹ thuật viên sẽ đặt một chiếc đĩa vàng nhỏ được gọi là điện cực trên da đầu của trẻ. Đôi khi trẻ sẽ cần dùng thuốc để ngủ trong quá trình làm điện não đồ.

EEG giúp bác sĩ quyết định liệu trẻ có bị hội chứng co thắt. EEG cũng được sử dụng để kiểm tra hiệu quả của phương pháp điều trị.

Chụp CT và cộng hưởng từ não

Hầu hết trẻ bị hội chứng co thắt sẽ chụp CT hoặc cộng hưởng từ não.

·         Chụp CT là một dạng tia X đặc biệt sử dụng máy tính để lấy hình ảnh của não.

·         Chụp cộng thưởng từ sử dụng một nam châm, các tín hiệu radio và một máy tính để lấy các hình ảnh của não.

Các hình ảnh này giúp bác sĩ tìm hiểu xem liệu não của trẻ trông có bình thường hay không. Nó có thể giúp bác sĩ tìm ra nguyên nhân của hội chứng co thắt ở trẻ nhỏ.

Các xét nghiệm khác

Các bác sĩ cũng có thể tiến hành các xét nghiệm khác để tìm nguyên nhân gây hội chứng co thắt ở trẻ nhỏ:

·         Các bác sĩ có thể tiến hành xét nghiệm máu và nước tiểu để tìm các bệnh nhiễm trùng và những thay đổi về chất trong cơ thể.

·         Nếu bác sĩ không thể tìm ra ra nguyên nhân của hội chứng co thắt bằng cách sử dụng các xét nghiệm này, họ có thể làm xét nghiệm máu để xem gen của trẻ có bất kỳ bất thường nào không.

·         Các bác sĩ có thể dùng đèn Woods để soi da của trẻ. Một số bệnh lý gây hội chứng co thắt ở trẻ cũng gây những thay đổi ở da. Đèn này sử dụng ánh sáng đặc biệt để hiển thị những thay đổi đó.

Bởi vì có quá nhiều nguyên nhân gây co thắt ở trẻ, các xét nghiệm ở mỗi bé sẽ khác nhau. Các bác sĩ và y tá sẽ giải thích bất kỳ xét nghiệm nào khác mà trẻ có thể cần.

Hội chứng co thắt ở trẻ nhỏ được điều trị bằng thuốc

Hai loại thuốc là biện phát tốt nhất để ngăn chặn các cơn co thắt ở trẻ. Một được gọi là vigabatrin(Sabril) và loại kia được gọi là ACTH (Synacthen).

Tại SickKids, bác sĩ có thể sẽ cho trẻ dùng vigabatrin trước. Thông thường, sau 2 đến 3 tuần điều trị, trẻ sẽ được làm điện não đồ và được bác sĩ thần kinh khám. Nếu chứng co thắt không ngừng hoặc mô hình loạn nhịp sóng cao tần trên EEG không biến mất, bác sĩ thần kinh có thể quyết định bắt đầu cho trẻ dùng ACTH hoặc đôi khi là một loại thuốc được gọi là prednisolone hay thuốc chống động kinh khác.

Việc điều trị giúp ngăn chặn chứng co thắt ở hầu hết trẻ nhỏ, nhưng ở một số trẻ nhỏ chứng co thắt sẽ không ngừng lại.

Vigabatrin

Vigabatrin (Sabril) là loại thuốc uống. Thuốc dạng viên có thể được nghiền hoặc trộn với một chút nước chẳng hạn như một thìa nước, sữa, hay nước hoa quả, hay một thìa thực phẩm như súp táo hay ngũ cốc dành cho trẻ. Thuốc cũng có dạng bột được gọi là túi có thể được hòa tan trong nước. Hãy đảm bảo trẻ uống hết nước hay thực phẩm để nhận đủ liều. Gợi ý về cách cho trẻ uống thuốc có thể xem  trên Suckhoebetho Video thuốc: làm thế nào cho trẻ uống thuốc dạng lỏng tại nhà.

Bảo quản thuốc ở nhiệt độ phòng tại nơi khô thoáng.

Lượng thuốc tăng lên mỗi ngày, trong một vài ngày sẽ đạt tới một liều lượng rất cao. Nếu vigabatrin làm các cơn co thắt ngừng lại, trẻ sẽ duy trì ở liều đó trong ít nhất 6 tháng. Bác sĩ cho bạn biết khi nào trẻ sẵn sàng dừng dùng thuốc.

Dưới đây là những gì cần làm nếu trẻ trớ thuốc hoặc nếu bạn quên một liều:

·         Nếu trẻ nôn trớ thuốc trong vòng 30 phút sau khi uống, hãy cho uống lại một liều tương tự

·         Nếu trẻ nôn trở sau hơn 30 phút uống thuốc, không cho trẻ uống thêm bất kỳ liều nào cho đến lần uống kế tiếp.

·         Nếu thuốc không được cho uống đúng thời gian, hãy cho trẻ uống ngay khi bạn nhớ hay có thể, trừ khi liều kế tiếp trong vòng 4 giờ.

·         Nếu liều kế tiếp phải được uống trong khoảng thời gian chưa tới 4 giờ, không cho trẻ uống liều đã bị quên. Cho trẻ uống liều kế tiếp sớm hơn một chút và sau đó cho uống thuốc vào các thời điểm quy định. Không cho uống 2 liều cùng một lúc.

Tác dụng phụ của vigabatrin

Trẻ có thể có một số các tác dụng phụ sau:

·         Thay đổi thị giác của trẻ, đặc biệt mất tầm nhìn ngoại vi hay phụ, đôi khi được gọi là tầm nhìn trong đường hầm.

·         Muốn ngủ nhiều hơn bình thường, đặc biệt trong vài ngày đầu cho tới ba tuần sau khi bắt đầu điều trị

·         Khó chịu ở dạ dày

·         táo bón

·         Hiếu động thái quá, bồn chốn, luôn muốn di chuyển

·         Bị thức dậy nhiều lần vào nửa đêm

·         Cáu kỉnh, tức giận, khó tạo niềm vui

·         Tăng cân

·         Cánh tay và chân trở nên mềm, còn gọi là giảm trương lực cơ hoặc giảm trương lực

Không phải tất cả trẻ đều có các tác dụng phụ trên. Trẻ có có thể bị một số tác dụng này mà không bị các tác dụng khác.

Lưu ý về tầm nhìn trong đường hầm

Các bác sĩ tại The Hospital for Sick Children đã quan sát nhiều trẻ đang sử dụng vigabatrin để xem mức độ ảnh hưởng của vigabatrin tới thị lực của trẻ. Các bác sĩ đã phát hiện rằng:

·         Những thay đổi trong tầm nhìn do vigabatrin xảy ra ở chưa tới 10% số trẻ dưới 2 tuổi.

·         Hiếm khi thấy thay đổi mắt ở trẻ dùng vigabatrin chưa tới 6 tháng.

·         Những thay đổi ở mắt thường xảy ra sau 1 đến 2 năm điều trị, nhưng vẫn không phải là phổ biến.

·         Hầu hết trẻ sẽ không bị thay đổi thị lực do vigabatrin.

Làm thế nào để đối phó với các tác dụng phụ của  vigabatrin

·         Thay đổi thị lực: Trẻ sẽ làm bài kiểm tra mắt được gọi là điện đồ võng mạc (ERG) trong một khoảng thời gian ngắn sau khi bắt đầu sử dụng vigabatrin. Vigabatrin đôi khi có thể gây thu hẹp tầm nhìn ngoại vi, nghĩa là trẻ không nhìn thấy những thứ ở bên cạnh. ERG sẽ giúp bác sĩ xác định xem liệu trẻ có gặp vấn đề này. ERG được thực hiện 3 đến 6 tháng một lần trong khi trẻ vẫn đang sử dụng vigabatrin để xem liệu có bất kỳ thay đổi nào không. Sẽ làm thêm một ERG sau khi trẻ đã dừng không sử dụng vigabatrin nữa.

·         Buồn ngủ: trẻ sẽ ít buồn ngủ hơn theo thời gian khi trẻ đã quen với thuốc. Hãy đảm bảo trẻ ăn uống đủ. Đánh thức trẻ dậy khi đến giờ cho ăn. Nếu trẻ quá buồn ngủ và không chịu ăn uống, hãy gọi cho bác sĩ đã kê đơn thuốc vagabatrin.

ACTH

ACTH (Synacthen) được tiêm vào chân. Một y tá được sắp xếp để tới nhà tiêm thuốc cho trẻ.

ACTH được bắt đầu bằng liều cao. Tại SickKids liều lượng giảm dần trong 6 tuần và sau đó dừng biện pháp điều trị này.

Tác dụng phụ ban đầu thường xấu đi khi dùng liều cao. Các tác dụng phụ sẽ biến mất sau khi dừng ACTH.

Y tá phải kiểm tra huyết áp trẻ trước khi tiêm thuốc. Cứ 1 đến 2 tuần lại làm xét nghiệm máu cho trẻ và xét nghiệm nước tiểu được tiến hành 2 lần một tuần.

Đôi khi bác sĩ sẽ đề nghị sử dụng prednisolone thay vì ACTH . Nó là một loại thuốc tương tự như ACTH và gây các tác dụng phụ tương tự nhưng liều lượng sử dụng không cao và được đưa qua đường uống.

Tác dụng phụ của ACTH

Trẻ có thể xuất hiện một số tác dụng phụ sau:

·         Tăng nguy cơ bị nhiễm trùng nghiêm trọng

·         Ngủ không ngon giấc, dù một số trẻ rơi vào trạng thái buồn ngủ và hôn mê

·         Cáu kỉnh: trẻ có thể hay tức giận và khó giữ bình tĩnh

·         Hay đói hoặc muốn ăn nhiều hơn

·         Tăng cân

·         Mặt sưng húp

·         Dạ dày khó chịu, chẳng hạn như ói mửa (nôn) hoặc đau dạ dày

·         Huyết áp cao

·         Thay đổi các chất trong cơ thể, như đường hoặc muối cao

·         Mụn trứng cá: các mụn đỏ nổi lên trên mặt

·         Run (lắc nhẹ)

·         Trong trường hợp hiếm gặp, xương bị mỏng đi dễ vỡ

·         Ở trường hợp rất hiếm, các cơ tim dày lên

Không phải tất cả trẻ đều có các tác dụng phụ trên. Trẻ có thể chỉ bị một số tác dụng này mà không bị những tác dụng kia. Các tác dụng phụ sẽ biến mất sau khi ngừng sử dụng ACTH hay prednisolone.

Làm thế nào để đối phó với các tác dụng phụ của ACTh và prednisolone

·         Nguy cơ bị nhiễm trùng nghiêm trọng: Rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi tiếp xúc hay ẵm bồng trẻ. Bạn có thể mua loại xà phòng có ghi “kháng khuẩn” trên bao bì. Yêu cầu mọi người khách tới nhà rửa tay. Bất cứ ai bị bệnh viêm nhiễm như cảm lạnh hay cúm không nên tiếp xúc hay ẵm bồng trẻ. Trẻ được đề nghị không đi nhà trẻ trong thời gian dùng ACTH. Điều quan trọng là hãy đưa trẻ đi khám bác sĩ nhi khoa hoặc bác sĩ gia đình ngay sau khi trẻ có bất kỳ dấu hiệu nhiễm trùng nào. Một số dấu hiệu nhiễm trùng đó là sốt, chảy nước mũi, ho, tiêu chảy (đi phân lỏng), nước tiểu có mùi hôi, và thay đổi về mức độ tỉnh táo. Để có thêm thông tin, xin vui lòng xem mục “Ức chế miễn dịch: Bảo vệ trẻ khỏi nhiễm trùng”.

·         Cực kỳ khó chịu hay tức giận: Nếu trẻ thực sự khó ngủ, bác sĩ có thể đề nghị bạn cho trẻ dùng thuốc giúp trẻ ngủ vào ban đêm. Bạn sẽ được đưa đơn thuốc. Hãy nhờ sự trợ giúp từ gia đình hay bạn bè thay phiên chăm sóc bé để bạn có thời gian nghỉ ngơi một chút. Ẵm bồng, đu đưa, nhún nhảy, tắm nước ấm, chơi nhạc hay bất cứ điều gì khiến trẻ cảm thấy tốt hơn. Đôi khi, dù bạn có làm gì đi nữa thì trẻ vẫn sẽ không ngừng khóc hay cáu kỉnh.

·         Tăng cảm giác thèm ăn: cho trẻ ăn loại và lượng thức ăn mà một đứa trẻ cùng lứa tuổi thường ăn. Hãy hỏi y tá chăm trẻ để có thêm thông tin về “Trẻ ăn những gì trong năm đầu đời” hay nói chuyện với bác sĩ nhi khoa về các thông tin loại và lượng thực phẩm tốt nhất dành cho bé. Ngoài ra bạn có thể được sắp xếp để trò chuyện với một chuyên gia dinh dưỡng.

·         Khó chịu ở dạ dày: Bác sĩ sẽ kê đơn để giúp xoa dịu dạ dày của trẻ

·         Huyết áp cao: Y tá sẽ kiểm tra huyết áp của trẻ trước khi cho dùng ACTH. Nếu trẻ đang dùng prednisolone nên được bác sĩ nhi khoa kiểm tra huyết áp ít nhất một lần một tuần. Huyết áp là một thước đo lực và tần suất tim đẩy máu xung quanh cơ thể. Nếu huyết áp cao hơn một mức nhất định, bác sĩ có thể kê đơn thuốc để làm giảm huyết áp của trẻ.

·         Thay đổi các chất trong cơ thể: Trẻ sẽ được làm xét nghiệm máu cứ 1 đến 2 tuần 1 lần. Nước tiểu là 2 lần một tuần. Xét nghiệm máu có thể do bác sĩ nhi khoa hoặc bác sĩ gia đình thực hiện. Y tá là người tới nhà để làm xét nghiệm nước tiểu. Bác sĩ sẽ kê đơn thuốc để điều trị bất kỳ vấn đề gì.

Quan trọng là cần điều trị để trẻ ngừng lên cơn co thắt

Tất cả trẻ ngừng co thắt theo thời gian, thường là lúc được 2 đến 3 tuổi. Nhưng nếu trẻ không được điều trị, trẻ sẽ ngừng phát triển. Trẻ sẽ không học thêm bất kỳ điều gì mới. Đây chính là nguyên nhân gây những vấn đề với sự phát triển kéo dài về sau. Điều trị hết co thắt giúp trẻ có cơ hội được học tập và phát triển. Điều này lý giải tại sao việc điều trị co thắt ở trẻ nhỏ là rất quan trọng, nó đưa mô hình sóng não (EEG) trở về mức bình thường nhất có thể.

Tình trạng tiến triển của trẻ sẽ tùy thuộc vào nguyên nhân gây co thắt

Tình trạng tiến triển của trẻ tùy thuộc vào:

·         Nguyên nhân gây co thắt ở trẻ

·         Tác dụng hiệu quả của liệu pháp điều trị

Nếu trẻ bị co thắt thể triệu chứng (đã xác định nguyên nhân) hay tình trạng bệnh không thuyên giảm dù đã được điều trị, chúng có thể gặp vấn đề về học tập và phát triển kéo dài tới suốt phần đời còn lại. Nếu nguyên nhân gây bệnh là không xác định nguồn gốc hay tự phát (không xác định), trẻ có khả năng hồi phục bình thường hay gần như bình thường.

Trẻ có thể bị dạng co giật khác trong cuộc sống sau này

Nhiều trẻ bị co thắt sẽ mắc các bệnh động kinh khác. Hầu hết trẻ bị co thắt thể triệu chứng sẽ xuất hiện các dạng động kinh khác sau này.

Bạn có thể cần phải trì hoãn lịch chủng ngừa cho trẻ

Hãy nói chuyện với bác sĩ khoa thần kinh về thời điểm có thể cho trẻ chủng ngừa. Sau khi trẻ bắt đầu dùng thuốc co thắt, bạn cần điều chỉnh lịch tiêm chủng.

·         Đôi khi các bác sĩ không muốn cho trẻ tiêm chủng cho đến khi họ biết được liệu thuốc đã ngừng tình trạng co thắt hay không.

·         Các loại vắc xin sẽ không có tác dụng trong thời gian trẻ dùng ACTH, và đôi khi là nhiều tháng sau khi trẻ đã ngừng sử dụng thuốc.

Bạn có thể hỗ trợ trẻ bị hội chứng co thắt

Dưới đây là một số điều mà các bậc cha mẹ có thể làm để giúp trẻ bị co thắt:

·         Ghi lại số lần co thắt mà trẻ có và biểu hiện của trẻ. Điều này sẽ giúp bác sĩ quyết định tác dụng hiệu quả của thuốc đang dùng.

·         Cho trẻ dùng thuốc theo thời gian bác sĩ đề nghị

·         Chơi và nói chuyện với trẻ để giúp trẻ học những điều mới và phát triển.

·         Đưa trẻ đi khám theo như lịch hẹn

·         Đảm bảo rằng các bác sĩ và dược sĩ biết trẻ đang dùng vigabatrin hay ACTH trước khi bắt đầu dùng bất kỳ loại thuốc nào khác

·         Tự chăm sóc bản thân. Ăn uống đầy đủ, yêu cầu những người khác giúp đỡ và ngủ đủ giấc. Nếu bạn vẫn khỏe mạnh, bạn mới có thể đáp ứng tốt nhu cầu của trẻ.

Khi nào thì nên gọi cho bác sĩ hay y tá?

Hãy gọi cho bác sĩ thần kinh của trẻ hay y tá khoa thần kinh nếu:

·         Trẻ có các tác dụng phụ với thuốc mà khó xử lý được

·         Trẻ không ăn uống đầy đủ

·         Trẻ ngủ suốt ngày và khó đánh thức

·         Trẻ thể hiện bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy phản ứng dị ứng, như nổi mề đay, phát ban hay thở khò khè

·         Trẻ co thắt hơn bình thường

Hãy gọi cho bác sĩ nhi khoa hoặc bác sĩ gia đình nếu trẻ có bất kỳ dấu hiệu nhiễm trùng hay bạn có lo ngại khác về sức khỏe của trẻ.

Các nguồn lực hỗ trợ bạn đối phó với các vấn đề

Có nhiều người có thể hỗ trợ bạn.

·         Nhà xã hội học có thể hỗ trợ bạn và gia đình cùng giúp bạn tập trung hướng vào bệnh của trẻ. Họ cũng có thể giúp bạn nhận được những hỗ trợ cộng đồng và tìm kiếm nguồn tài chính chi trả thuốc men cho trẻ.

·         Nhà trị liệu cơ năng hỗ trợ quá trình phát triển của trẻ. Họ sẽ kiểm tra trẻ đang phát triển như thế nào, đưa ra biện pháp điều trị theo yêu cầu và hướng dẫn bạn cách giúp trẻ học những điều mới. Đây thường được gọi là liệu pháp kích thích trẻ.

·         Gia đình, bạn bè và cộng đồng tôn giáo có thể hỗ trợ bạn theo nhiều cách khác nhau.

·         Các nhóm hỗ trợ như Nhóm hỗ trợ hộ chứng West tại Vương quốc Anh.

·          (http://www.wssg.org.uk/wssg ) hay chương trình tư vấn dành cho các bậc cha mẹ (http://www.infantilespasmsinfo.org) có thể tìm thấy trên Internet. Tiếp xúc với các bậc cha mẹ khác có con bị hội chứng co thắt có thể giúp đỡ phần nào.

Những điểm chính cần lưu ý

·         Hội chứng co thắt ở trẻ nhỏ là một dạng động kinh thường bắt đầu trong năm đầu đời

·         Co thắt không gây đau đớn cho bé, nhưng cần phải được điều trị càng sớm càng tốt, nếu không trẻ sẽ ngừng phát triển và học hỏi những điều mới

·         Sau khi được chẩn đoán bị hội chứng co thắt, trẻ có thể cần xét nghiệm để tìm ra nguyên nhân gây co thắt. Trẻ có thể cần chụp cộng hưởng từ não hay xét nghiệm máu và nước tiểu để xem những thay đổi các chất hay thay đổi về gen.

·         Hội chứng co thắt ở trẻ được điều trị bằng thuốc. Trẻ lúc đầu dùng vigabatrin (Sabril). Nếu vigabatrin không hiệu quả trẻ sẽ chuyển sang điều trị bằng ACTH (Synacthen) hoặc prednisolone hay thuốc chống động kinh khác.

·         Nhiều trẻ bị hội chứng co thắt sau này sẽ mắc các bệnh động kinh khác.

Nguồn: Jennifer Boyd, RN, MHSc, CNN(C)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *